Ðổi mới cơ chế tài chính trong giáo dục và đào tạo

Ngoài ra, ngành GD và ÐT còn phải không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo để đáp ứng yêu cầu đào tạo nhân tài cho đất nước, cung cấp cho đất nước những công dân vừa có lý tưởng, vừa có hoài bão, vừa có tố chất và đạo đức, văn hóa của con người Việt Nam, vừa có chuyên môn giỏi để thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH, HÐH. Trong hoàn cảnh đất nước còn nghèo, thu nhập người dân còn thấp, nhất là vùng đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống ở các nơi xa xôi như biên giới, hải đảo, thì dù Nhà nước có tăng tỷ lệ chi ngân sách nhà nước cho GD và ÐT lên đến 20% (cao so với thế giới) thì số chi tuyệt đối thực tế tính bình quân cho một người đi học ở tất cả các cấp học đều còn thấp. Cũng không thể duy ý chí mà cho rằng, chi cho GD và ÐT như vậy là cao và chất lương phải ngang với thế giới, đồng thời cần chống khuynh hướng ỷ lại bao cấp của Nhà nước hoặc huy động quá mức đối với khả năng chi trả của người dân. Ðề án đã xác định rõ tính chất của tài chính giáo dục, cơ chế điều tiết các nguồn và lộ trình thực hiện. Chế độ học phí hiện hành mang nặng tính bao cấp đó chính là tư tưởng của chủ nghĩa binh quân, cào bằng trong GD và ÐT, làm triệt tiêu động lưc trong GD và ÐT. Tăng học phí hợp lý tất yếu sẽ dẫn đến tăng chất lượng GD và ÐT, để người học được lợi hơn, về thực chất là vì quyền lợi của người học. Mức tăng này không vượt quá khả năng chi trả của người nghèo. Thí dụ, từ năm 2000 đến 2005, học phí cao gấp 120% đến 225% so với chuẩn nghèo. Ở thời điểm đó, chính sách học phí vẫn có sự đồng thuận cao của xã hội. Từ năm 2006 đến nay, mức học phí giảm đi một cách tương đối so với chuẩn nghèo (hiện nay chỉ còn khoảng 46,0% và 60,0%). Do đó, nếu tăng học phí lên mức 290, 310 và 340 nghìn đồng vào năm 2010 thì các mức học phí đó trên thực tế chỉ bằng 96%, 103% và 113% so với chuẩn nghèo nông thôn và 74,3%, 79,4% và 87,1% so với chuẩn nghèo thành thị. Mức tăng học phí dự kiến lần này vẫn chưa bằng mức đóng góp học phí của người nghèo ở các giai đoạn 2000-2005 và 2006-2008. Do đó, có thể nói mức tăng học phí lần này không ảnh hưởng nhiều đến người nghèo, đó là chưa nói tới GDP và thu nhập thực tế bình quân của người dân đã tăng lên nhiều lần so với năm 2000.

Kinh phí chi cho giáo dục chủ yếu là từ ba nguồn: Nhà nước (người dân chi trả gián tiếp qua đóng thuế), người học đóng góp trực tiếp (qua học phí và các khoản thu hợp pháp khác) và đóng góp của xã hội. Ðể đáp ứng nhu cầu xã hội về GD và ÐT, thì xã hội hóa GD và ÐT là tất yếu; do đó, cơ chế tài chính mới do Chính phủ đề xuất là cơ sở để bảo đảm các yêu cầu phát triển GD và ÐT; tăng trách nhiệm và nghĩa vụ của người dân, của người học đến quá trình đào tạo và kết quả đào tạo. Ðối với bậc học phổ thông, chủ yếu do Chính phủ đầu tư hỗ trợ bằng ngân sách Nhà nước; Nhà nước chủ trương phổ cập đến cấp nào, lớp nào thì Nhà nước "chi trả" đến lớp ấy, cấp ấy, và khi nền kinh tế đất nước đã đủ mạnh thì tiến tới Nhà nước bao cấp hoàn toàn giáo dục phổ thông. Không có nước nào trên thế giới không thực hiện chính sách hỗ trợ giáo dục phổ thông một phần hoặc toàn bộ. Tại một số trường phổ thông ở vùng đông bắc Thái-lan, chính phủ Thái-lan gần như bao cấp hoàn toàn, học sinh còn được cho ăn trưa và phát đồng phục miễn phí. Trường THCS nội trú dân nuôi ở Thài Phìn Tủng (Hà Giang) học sinh đến học khá đông đủ một phần vì các em được ăn bữa trưa không phải trả tiền. Hỗ trợ cho giáo dục phổ thông là một trong những nguyên tắc nằm trong "hộp xanh" của WTO và được WTO khuyến khích. Chính sách học phí cho giáo dục đại học và nghề nghiệp thì lại khác, đây là quan hệ cung - cầu giữa một bên cung cấp dịch vụ đào tạo (dịch vụ công) và một bên cần dịch vụ đào tạo. Những ngành mà Nhà nước cần (như để phục vụ mục đích an sinh xã hội hay an ninh quốc phòng) thì Nhà nước cũng phải chi trả một phần hay toàn bộ (trực tiếp hay gián tiếp), còn nhìn chung người nhận dịch vụ phải chi trả bên cung cấp dịch vụ. Trong điều kiện cụ thể của nước ta thì học phí phải được tăng lên và dần từng bước thích ứng với cơ chế thị trường để bảo đảm đủ chi và có tích lũy để tăng cường cơ sở vật chất và phúc lợi cho các trường đại học. Việt Nam đã cam kết coi dịch vụ giáo dục là một thị trường và mở cửa thị trường này khi vào WTO. Muốn vậy, chỉ có tăng học phí mới tăng được chất lượng đào tạo đại học và dạy nghề, giáo dục công lập mới cạnh tranh được với các tổ chức và thành phần kinh tế khác trong thị trường giáo dục đại học và dạy nghề, nhất là các tổ chức nước ngoài.  Thực chất Ðề án đổi mới tài chính này là xuất phát từ lợi ích của người học và gia đình họ, Việc quản lý ngân sách giáo duc hiện nay định mức, phân bổ kinh phí, cơ chế thu chi,...) chưa gắn với nhiệm vụ của mỗi cấp học, ngành học của hệ thống giáo dục. Do đó, trong thực tế bị bình quân hóa, không gắn trách nhiệm, hiệu quả, chất lượng với kinh phí, ngành giáo dục bị hạn chế động lực phát triển; và đề án này cam kết sự bảo đảm từ phía Nhà nước cho ngân sách giáo dục, các trường đại học có thể và cần phải cam kết công khai phần đầu tư của ngân sách và mức độ đóng góp của người học trong ngân sách.

Nói đến mức đầu tư cho GD và ÐT hay chi tiết hơn nữa là suất đầu tư bình quân cho một người học cần phải được tính đúng và tính đủ chi phí. Trước hết phải dựa vào việc xác định chi phí đào tạo một cách chính xác và đầy đủ thì mới xác định được suất đầu tư. Cũng như các hoạt động sản xuất và dịch vụ khác, người ta phải xác định được sản phẩm cuối cùng là gì rồi từ đó mới xác định suất đầu tư trên một đơn vị sản phẩm và tính giá thành cho sản phẩm theo các phương pháp kinh tế thông thường. Ðào tạo đại học cũng vậy, có thể coi người học trong một thời gian nhất định để đạt được một chứng chỉ hay một văn bằng ở các trình độ khác nhau là những sản phẩm của GD và ÐT. Như vậy, tùy mức độ sản phẩm mà có chi phí GD và ÐT khác nhau.

Ngay cả khi Ðề án này được Quốc hội thông qua, thì trên thực tế cũng mới chỉ giải quyết được một phần những khó khăn về tài chính mà các trường đại học công lập đang phải đối mặt để thực hiện thắng lợi Nghị quyết T.Ư 2 (khóa VIII) về GD và ÐT, Nghị quyết 14/2005/CP của Chính phủ về đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam, của quyết định 09/2005/QÐ-TTg về xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục.

Có thể bạn quan tâm