Chưa thể “nới lỏng” mục tiêu giảm sinh

Dự thảo Luật Dân số đang được Bộ Y tế lấy ý kiến để hoàn thiện. Nhiều ý kiến cho rằng nên trao quyền lựa chọn về số con cho các cặp vợ chồng, cá nhân. Tuy nhiên, theo các chuyên gia dân số, nếu để quyền tự quyết định số con cho các cặp vợ chồng, cá nhân, vô hình trung sẽ làm tăng sinh trở lại, khi đó sẽ gây ra nhiều thách thức cho an sinh xã hội...

Cán bộ Trung tâm DS-KHHGĐ Quản Bạ (Hà Giang) tuyên truyền công dụng của thuốc tránh thai cho bà con xã Cán Tỷ. Ảnh: ĐẠI TÂM
Cán bộ Trung tâm DS-KHHGĐ Quản Bạ (Hà Giang) tuyên truyền công dụng của thuốc tránh thai cho bà con xã Cán Tỷ. Ảnh: ĐẠI TÂM

Theo kết quả điều tra biến động dân số năm 2014, cả nước có khoảng 25 triệu phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ (từ 15 tuổi đến 49 tuổi). Điều này cho thấy “tiềm năng” sinh đẻ trong những năm tới là rất lớn. Và nếu để các cặp vợ chồng, cá nhân tự quyết định số con sẽ tiềm ẩn nguy cơ tăng dân số, với ước tính mỗi năm có khoảng 200 nghìn đến 500 nghìn trẻ em được sinh thêm. Với tỷ lệ sinh tăng vài phần nghìn mỗi năm, thì sau năm đến mười năm, số trẻ em này lớn lên, nhu cầu về an sinh xã hội sẽ đặt ra nhiều vấn đề bức thiết khi tăng tới hàng triệu người ở mỗi nhóm tuổi. Các trường học sẽ gặp khó khăn vì lượng học sinh tăng đột biến, dẫn đến không bảo đảm số lớp; ngành y tế cũng sẽ chịu áp lực không nhỏ trong công tác khám chữa bệnh, quá tải bệnh viện... Đó là chưa tính đến giải quyết việc làm, bảo đảm làm đúng ngành, nghề được đào tạo...

Mối quan hệ dân số và phát triển kinh tế - xã hội cho thấy, nước ta chưa thể nới lỏng mức sinh trong công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình (KHHGĐ). Các nhà kinh tế đã tính toán, nếu tỷ lệ tăng dân số là 1%, để duy trì mức sống như hiện tại, thì mức tăng trưởng kinh tế phải tăng thêm 4%. Như năm 2014, với nền kinh tế được phục hồi, nước ta đạt mục tiêu tăng trưởng là 5,8%. Như vậy, nếu đạt mục tiêu tăng trưởng đề ra và tỷ lệ dân số không tăng, thì chất lượng cuộc sống sẽ được cải thiện. Còn nếu “nới lỏng” để tỷ lệ dân số tăng lên như những năm hiểu nhầm về Pháp lệnh Dân số (năm 2003), thì tỷ lệ tăng trưởng kinh tế sẽ phải là 6,0%. Như vậy, nếu để dân số tăng trở lại thì mục tiêu tăng trưởng 6,2% cũng chỉ có thể duy trì chất lượng cuộc sống như cũ.

Theo Phó Tổng cục trưởng phụ trách Tổng cục DS - KHHGĐ (Bộ Y tế) Nguyễn Văn Tân, có ba kịch bản cho quy mô dân số: nếu mức sinh tăng trở lại và tổng tỷ suất sinh có thể lên tới 2,3 - 2,5 con/phụ nữ, thì đến năm 2040 quy mô dân số ở nước ta đạt cực đại ở mức quá cao (khoảng 130 - 140 triệu người); nếu để mức sinh giảm xuống quá thấp và tổng tỷ suất chỉ khoảng 1,35 con/phụ nữ thì vào khoảng năm 2040, quy mô dân số nước ta sẽ đạt cực đại khoảng 95 - 100 triệu dân. Kịch bản thứ ba, duy trì mức sinh thấp hợp lý, với tổng tỷ suất sinh khoảng từ 1,9 đến 2,0 con/phụ nữ thì quy mô dân số nước ta sẽ chỉ đạt mức cao nhất khoảng 115 triệu người vào năm 2040 là hợp lý nhất.

Tuy nước ta đã đạt mức sinh thay thế nhưng chưa thật ổn định và có sự khác biệt giữa các vùng, miền. Các tỉnh khu vực Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long vẫn duy trì mức sinh thấp trong năm, sáu năm qua như TP Hồ Chí Minh là 1,68 con/phụ nữ; tỷ lệ này ở Cà Mau là 1,7... Ngược lại, một số tỉnh như Hà Tĩnh, tổng tỷ suất sinh lên đến 2,95; Quảng Trị là 2,75; Kon Tum là 2,7... Cho nên, cần có những chính sách cụ thể cho từng vùng, từng địa phương. Đối với những nơi như vùng cao, miền núi, vùng khó khăn vẫn chưa đạt mức sinh thay thế, cần tiếp tục thực hiện các chính sách để giảm mức sinh nhằm đưa về mức sinh thay thế. Còn đối với những tỉnh đã duy trì được mức sinh thay thế (từ 1,9 đến 2,1) thì tiếp tục duy trì mức sinh như hiện nay, đồng thời tập trung các chương trình, dự án để từng bước nâng cao chất lượng dân số. Còn với những tỉnh, thành phố hiện ở mức sinh thấp, thì cần có những chính sách phù hợp để mỗi gia đình sinh đủ hai con theo quy định.

Nhiều chuyên gia lĩnh vực dân số cho rằng, với quy mô dân số như hiện nay, duy trì mức sinh với tổng tỷ suất sinh từ 1,9 - 2,0 con/phụ nữ là hợp lý nhất. Như vậy, quy mô dân số nước ta sẽ ổn định ở mức 115 - 120 triệu người. Việc duy trì mức sinh hợp lý sẽ tạo ra quy mô dân số ổn định ở mức thấp, cơ cấu tuổi của dân số sẽ cân bằng, giảm dần sự chênh lệch bất lợi về mức sinh giữa các vùng miền, tạo tiền đề thúc đẩy phát triển bền vững kinh tế - xã hội trong giai đoạn hiện tại và tương lai.

Chiến lược DS/KHHGĐ giai đoạn 2011 - 2020 được Thủ tướng phê duyệt nêu rõ các lĩnh vực ưu tiên trong công tác dân số: Giải quyết đồng bộ các vấn đề dân số, sức khỏe sinh sản, tập trung nâng cao chất lượng dân số; cải thiện sức khỏe bà mẹ và trẻ em, phát huy lợi thế cơ cấu “dân số vàng”; chủ động điều chỉnh tốc độ tăng dân số, kiểm soát tỷ số giới tính khi sinh và đặt ra mục tiêu “duy trì mức sinh thấp hợp lý”. Theo đó, tổng tỷ suất sinh hợp lý nhất là 1,9 con vào năm 2015 và 1,8 con vào năm 2020.