Cấp thiết đổi mới mô hình tăng trưởng

Từ đầu năm đến nay, kinh tế thế giới có nhiều diễn biến phức tạp. Nhiều dự báo tăng trưởng kinh tế giảm so với dự báo đưa ra trước đó; giá cả các mặt hàng giảm, thương mại thế giới tiếp tục giảm từ 3,3% dự báo tháng 4-2015 xuống còn 2,8% theo dự báo của WTO tháng 9-2015; sự cạnh tranh ngày càng cao kéo theo bảo hộ hàng sản xuất của các nước càng mạnh; giá dầu giảm và không ổn định; lạm phát giảm... Trong bối cảnh đó, kinh tế Việt Nam chín tháng qua có những dấu hiệu phục hồi tốt là điều đáng ghi nhận.

Công nhân Doanh nghiệp tư nhân Cơ khí - Đúc Thành Phương (Hải Phòng) kiểm tra sản phẩm gang thép trước khi xuất khẩu sang Hàn Quốc. Ảnh: TRẦN HẢI
Công nhân Doanh nghiệp tư nhân Cơ khí - Đúc Thành Phương (Hải Phòng) kiểm tra sản phẩm gang thép trước khi xuất khẩu sang Hàn Quốc. Ảnh: TRẦN HẢI

Duy trì đà phục hồi tăng trưởng

Tăng trưởng GDP của cả nước trong chín tháng năm 2015 ở mức 6,5% so cùng kỳ năm trước, là mức tăng cao nhất trong năm năm gần đây. Lạm phát tiếp tục ở mức thấp, chỉ tăng 0,4% so với tháng 12-2014. Sản xuất công nghiệp và xây dựng tiếp tục tăng trưởng ở mức cao 9,69% so cùng kỳ năm 2014. Tổng kim ngạch xuất khẩu tăng 9,6%, nếu loại trừ yếu tố giá thì tăng 14%, cao hơn mức tăng 12,6% của chín tháng năm 2014. Tổng dư nợ tín dụng toàn ngành đã tăng hơn 10% so với cuối năm 2014...

Những con số thống kê nêu trên cho thấy, kinh tế Việt Nam chín tháng qua tiếp tục đà phục hồi. Trong bối cảnh kinh tế thế giới và khu vực diễn biến phức tạp hiện nay thì kết quả đó là đáng trân trọng.

Tuy nhiên, nền kinh tế Việt Nam vẫn còn nhiều khó khăn, nhất là nếu nhìn về góc độ hiệu quả, chất lượng tăng trưởng phục vụ phát triển kinh tế của quốc gia còn nhiều vấn đề cần nghiên cứu và phải có thái độ nhìn thẳng, chỉ rõ để có giải pháp quyết liệt hơn trong ba tháng cuối năm và cả năm 2016 nhằm thúc đẩy nền kinh tế phát triển với tốc độ cao hơn, chất lượng hơn.

Trong ngắn hạn, trước tiên phải có giải pháp tức thời cho sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp. Nhà nước, doanh nghiệp cần hỗ trợ nông dân, khu vực nông thôn giải quyết vấn đề tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, thủy sản, tạo điều kiện cho người nông dân có thu nhập, từ đó giải quyết đời sống khu vực nông thôn. Đây là vấn đề quan trọng trong những tháng cuối năm 2015 và cả năm 2016. Cùng với đó, cần tái cơ cấu ngành nông - lâm - ngư nghiệp theo hướng xây dựng các doanh nghiệp nông nghiệp, áp dụng khoa học kỹ thuật trong sản xuất, tạo ra sản phẩm có chất lượng để xuất khẩu.

Thứ hai, tập trung quản lý tốt thị trường trong nước, ngăn chặn việc nhập khẩu hàng hóa tràn lan, làm cho sản phẩm trong nước khó tiêu thụ được như thịt, rau củ, hoa quả… Kiên quyết chống hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng trên thị trường. Đây là giải pháp quan trọng nhằm tạo điều kiện tiêu thụ hàng sản xuất trong nước, giúp các DN trong nước có đầu ra và giúp cho các giải pháp ổn định vĩ mô được sát thực tế hơn, đưa lạm phát trở lại với quỹ đạo thực của nó.

Thứ ba, những chủ trương đúng đắn, cấp thiết đã đề ra như giảm biên chế; đưa dịch vụ công ra khỏi bộ máy công chức quản lý; tiết kiệm chi tiêu… cần phải được triển khai quyết liệt, hiệu quả hơn trong ba tháng còn lại của năm và trong năm 2016. Sự phối hợp điều hành của các bộ, ngành, địa phương cần được tăng cường hiệu quả hơn, thực chất hơn.

Mô hình tăng trưởng không còn phù hợp

Trong trung và dài hạn, vấn đề cốt lõi và khiếm khuyết lớn nhất, nguyên nhân sâu xa nhất tác động đến kết quả ngắn hạn, trung hạn và dài hạn của nền kinh tế đó là cơ cấu nền kinh tế. Vấn đề tái cơ cấu nền kinh tế được đề cập nhiều, song kết quả thu được chưa tương xứng: Tuy cơ cấu kinh tế đang đi theo hướng công nghiệp - dịch vụ - nông, lâm nghiệp, nhưng vẫn trên cơ sở một mô hình tăng trưởng lạc hậu và không còn phù hợp, đó là dựa vào vốn, lao động giá rẻ và gia công. Chúng ta chưa tập trung hình thành một mô hình tăng trưởng tiên tiến phù hợp để trên cơ sở đó xây dựng một cơ cấu kinh tế phù hợp. Đây chính là điểm nghẽn của tăng trưởng cao.

Trong chín tháng qua, GDP cả nước tăng 6,5% so với cùng kỳ, là mức tăng cao nhất trong vòng năm năm trở lại đây. Song, đóng góp vào mức tăng trưởng này là vốn đầu tư toàn xã hội tăng từ 30% lên 31,6%; là sản xuất công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 10,2% (về cơ bản là do các DN khối FDI trong lĩnh vực điện tử, điện lạnh, dệt may… đóng góp). Bên cạnh đó, đóng góp của xuất khẩu là khá lớn, trong đó các DN FDI (nếu tính cả dầu thô) chiếm gần 70% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước. Điều đó chứng tỏ mô hình tăng trưởng dựa vào vốn, dựa vào gia cộng, lao động giá rẻ vẫn là chủ yếu.

Xin nêu một vấn đề quan trọng là kinh tế trong nước và kinh tế khu vực FDI. Trong lúc sản xuất, kinh doanh của các DN trong nước đang gặp khó khăn (kim ngạch xuất khẩu của khu vực kinh tế trong nước giảm 2,7% so cùng kỳ năm 2014) thì các DN FDI có tốc độ tăng trưởng cao hơn (kim ngạch xuất khẩu tăng 15,8% so cùng kỳ năm 2014 và chiếm 68,1% tổng kim ngạch xuất khẩu). Chúng ta chủ trương thu hút vốn FDI và trong những năm qua, khu vực này đóng góp vào tăng trưởng xuất khẩu, sản xuất công nghiệp là đáng ghi nhận. Mặc dù vậy, do ngành công nghiệp hỗ trợ của Việt Nam chưa phát triển, tỷ lệ nội địa hóa rất thấp trong các sản phẩm chế tạo, chế biến, do đó sức lan tỏa của các DN FDI chưa nhiều, nhất là chưa cải thiện công tác quản lý DN, chuyển giao công nghệ tiên tiến cho các DN Việt Nam như mong đợi. Nếu cứ tiếp tục kêu gọi vốn FDI mà không phát triển công nghiệp hỗ trợ, không có phương án tăng tỷ lệ nội địa hóa để chuyển giao công nghệ, quản lý tiên tiến cho DN Việt Nam thì càng nhiều DN FDI vào Việt Nam càng cần phải xem xét kỹ lưỡng.

Một vấn đề khác là cổ phần hóa (CPH) DNNN và xây dựng DN Việt Nam đủ sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Đây là vấn đề lớn được Chính phủ tập trung chỉ đạo trong hai năm qua với quyết tâm hoàn thành CPH DNNN trong năm 2015. Song, đến nay, tốc độ CPH đã chậm lại, việc xác định giá trị DNNN CPH là vấn đề cản trở quá trình CPH. Trong khi đó, những DN đã CPH lại chưa phát huy được lợi thế cạnh tranh, chưa thật sự đổi mới, thay đổi phương thức quản trị DN hiệu quả hơn… Như vậy, hiệu quả sản xuất, kinh doanh của DNNN vẫn đang là vấn đề lớn, trong lúc khu vực DN tư nhân chưa được đối xử công bằng trong việc tiếp cận vốn, tài nguyên, cơ sở vật chất, thông tin và do đó, chưa trở thành động lực cho phát triển kinh tế đất nước.

Bên cạnh đó, công tác điều hành chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa của quốc gia cần được linh hoạt và phối hợp chặt chẽ, đồng bộ. Cần mổ xẻ, phân tích tận gốc các “hiện tượng gay cấn” trong hệ thống ngân hàng để củng cố và cơ cấu lại. Một loạt các câu hỏi lớn được đặt ra là: Tại sao tín dụng chín tháng tăng 10,78% nhưng hoạt động sản xuất của các DN trong nước vẫn khó khăn? Tại sao nhập siêu của các DN trong nước tăng đến 15,8 tỷ USD trong chín tháng (cùng kỳ năm 2014 chỉ là 4,1 tỷ USD)? Cơ cấu nhập siêu ra sao? Tại sao lãi suất huy động vốn đã cao hơn 6,5%/năm, nay lại có xu hướng tăng nhẹ, trong lúc lạm phát chỉ tăng 0,4% so với tháng 12-2014 và lãi suất cho vay vẫn ở mức cao hơn 9%?... Tất cả các vấn đề này cần được thẳng thắn nhìn nhận, xem xét kỹ lưỡng để có giải pháp cho ba tháng còn lại của năm 2015 và cả ở trung và dài hạn.

TS LÊ ĐÌNH ÂN

Nguyên Giám đốc

Trung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế - xã hội quốc gia