Cổ phần hóa các hãng phim nhà nước:

Cần sớm có chiến lược phát triển phù hợp

Mười năm về trước, câu chuyện cổ phần hóa các đơn vị làm phim quốc doanh đã từng “hâm nóng” bầu không khí dư luận, với những băn khoăn, trăn trở trong xác định đường nét, hình hài và cả những gam màu tổng thể cho bức tranh điện ảnh nước nhà “hậu cổ phần hóa”. Năm 2015, khi dấu mốc thời hạn cuối cùng phải hoàn tất mọi thủ tục đã cận kề, câu hỏi: Liệu có "bình mới, rượu cũ?”, vẫn đang để ngỏ.

Trăm mối tơ vò

Với điện ảnh, cổ phần hóa (CPH) là một hướng đi tất yếu trong xu thế hiện nay, được kỳ vọng sẽ thúc đẩy sự vận động của các đơn vị làm phim đã quá trì trệ một thời gian dài, bởi suốt nhiều thập niên qua, hoạt động sản xuất của cả Hãng phim truyện Việt Nam, Hãng phim truyện I và Hãng phim Giải phóng đều chỉ trông chờ duy nhất vào nguồn tiền tài trợ của Nhà nước. Phải rời “bầu sữa mẹ” là một thực tế vô cùng khó khăn mà cả ba đơn vị này đã và đang phải đối mặt.

Từ năm 2005, ngành điện ảnh đã rục rịch những bước đi đầu tiên trên lộ trình CPH. Thế nhưng, biết bao vấn đề nảy sinh trong nỗ lực tìm mô hình mới đã khiến mọi việc hầu như dậm chân tại chỗ.

Phải chờ tới 5 năm sau, Hãng phim truyện Việt Nam mới chính thức “chuyển đổi cái tên”, trở thành Công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) một thành viên Hãng phim truyện Việt Nam. Cùng khoác “tấm áo mới” vào thời điểm đó còn có các hãng phim nhà nước khác: Hãng phim Giải phóng, Hãng phim Tài liệu và Khoa học trung ương, Hãng phim Hoạt hình Việt Nam. Nhà nước vẫn tiếp tục cấp 100% vốn, nhưng trách nhiệm của các hãng phim (thay vì chỉ lo sản xuất phim như mô hình cũ) là phải khiến những đồng vốn ấy sinh lời. Đây thực chất là bước đệm đối với các hãng phim chưa kịp tiến hành cổ phần hóa trước ngày 30-6-2010.

Thế nhưng, dù đã đổi tên nhưng tình hình cũng chẳng mấy khả quan, suốt ba năm sau đó, Hãng phim truyện Việt Nam không hề có dự án phim để triển khai. Những người viết huyền thoại của đạo diễn Bùi Tuấn Dũng được thành hình nhờ vào nguồn kinh phí sản xuất của năm 2009. Một vài bộ phim sau đó như Sống cùng lịch sử, Nhà tiên tri… đều do Nhà nước đặt hàng, để thực hiện nhiệm vụ chính trị. Đạo diễn, NSƯT Vương Đức, Giám đốc Hãng từng chia sẻ cùng báo giới: “Toàn bộ hệ thống kho tàng, cơ sở vật chất xuống cấp thê thảm, hầu như chẳng còn gì. Thiết bị kỹ thuật, máy móc vô cùng lạc hậu. Rất nhiều nghệ sĩ tên tuổi, tài năng đã phải rời bỏ Hãng hoặc làm thuê cho các dự án bên ngoài như một cách cầm cự chờ… nghỉ hưu”. Và mức lương cơ bản 650.000 đồng/1 hệ số mà các nghệ sĩ thuộc đơn vị làm phim “anh cả đỏ” này đang nhận được mỗi tháng khiến dư luận thật sự sững sờ. Dù để có được khoản tiền ít ỏi đó (“Lương tôi cũng chỉ hơn bốn triệu đồng, còn anh em chỉ trung bình ba triệu đồng, thấp hơn cả thu nhập của nhân viên trông xe” - như Giám đốc Vương Đức hé lộ), Hãng vẫn phải gồng mình gánh vác công việc kể từ khi không còn được hưởng lương từ ngân sách Nhà nước. Thực tế tương tự cũng diễn ra với Hãng phim Giải phóng, địa chỉ từng tạo cú đột phá ngoạn mục cho điện ảnh nước nhà với “hiện tượng phòng vé” với phim Gái nhảy hơn chục năm về trước.

Năm 2009, Công ty TNHH một thành viên Phim truyện I chính thức thực hiện CPH. Là đơn vị sản xuất phim được tách ra từ Hãng phim truyện Việt Nam, vốn sở hữu bộ máy nhân lực gọn nhẹ nhất, chỉ có 77 người, Hãng phim truyện I được chọn giữ vai trò tiên phong. Với số vốn điều lệ hơn 14 tỷ đồng, tổng số cổ phiếu (CP) phát hành là 1 triệu 402 nghìn 600 (với giá 10.100 đồng/CP) đã được phân bổ cụ thể: Nhà nước 35%, cán bộ công nhân viên 7%, nhà đầu tư chiến lược 25%, bán ra 33%. Vào thời điểm đó, toàn bộ 33% số cổ phần đã được chào bán thành công. Giám đốc, NSƯT Đặng Tất Bình từng lạc quan đưa ra kế hoạch sản xuất năm 2010 (năm đầu triển khai mô hình CPH) với ba phim nhựa và 70 phim vi-đê-ô. Nhưng thật đáng buồn, từ thời điểm đó, Hãng phim truyện I đã “im thin thít và lặn mất tăm”, khi không thể đóng góp bất kỳ tác phẩm nào vào dòng chảy điện ảnh nước nhà. Nói như đạo diễn Hà Sơn: “Hãng phim truyện I là trường hợp thực tế cho thấy việc CPH trong lĩnh vực điện ảnh khởi đầu chưa thành công”.

Hậu cổ phần hóa, đừng để “bình mới, rượu cũ”!

Hiện tại, Hãng phim truyện Việt Nam và Hãng phim Giải phóng đều cơ bản hoàn tất thủ tục tiến hành CPH. Cuối tháng bảy vừa qua, Sở Giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh (HoSE) đã thông báo về việc đấu giá cổ phần Công ty TNHH một thành viên Phim Giải phóng. Theo đó, 12 nghìn 049 triệu 778 cổ phần, chiếm 59,21% vốn điều lệ dự kiến sau CPH được bán ra, với giá khởi điểm 10.000 đồng/CP. Thế nhưng, theo tiết lộ của nhà quay phim, Giám đốc Đặng Phúc Yên, “hiện vẫn chưa tìm được cổ đông chiến lược”. Triển khai bán cổ phần chậm hơn, nhưng đạo diễn Vương Đức lại tỏ ra khá lạc quan: “Hãng phim truyện Việt Nam có thuận lợi hơn, vì tài sản không tính gồm đất đai cho nên giá trị không lớn, cổ đông chiến lược và anh em nghệ sĩ dễ mua CP hơn”.

Dù thăng trầm, gian nan, lộ trình CPH các hãng phim nhà nước cuối cùng rồi cũng hoàn tất, như một lẽ tất nhiên. Nhưng đi tiếp ra sao, đi tiếp thế nào trong tương lai mới thật sự là điều khiến đội ngũ làm nghề vô cùng trăn trở.

Nhiều ý kiến tâm huyết đã được các nghệ sĩ, các nhà quản lý đưa ra bàn luận, chia sẻ trên các phương tiện truyền thông. Đạo diễn Thanh Vân thẳng thắn: “Tôi sợ là "bình mới, rượu cũ", chắc gì đã thay đổi. CPH việc làm phim mới chỉ là một phần của câu chuyện, quan trọng nhất là hướng hoạt động ra sao sau đó mới là điều đáng bàn”. Theo ông, nên hoạt động theo mô hình tổng công ty mà sản xuất phim chỉ là một bộ phận cấu thành. Bởi “ta đang có khúc giữa, không có cả đầu và cuối. Chỉ sản xuất phim thì không bao giờ tự nuôi sống nổi mình. Nếu vẫn đi trên lối mòn ấy, CPH cũng chẳng thay đổi được gì nhiều”. Với đạo diễn trẻ, nhà làm phim độc lập Phan Đăng Di: “CPH không quan trọng bằng thay đổi tư duy của người làm điện ảnh, khi họ chỉ quen làm phim với nguồn tài trợ của Nhà nước mà không nỗ lực đưa điện ảnh Việt Nam ra với thế giới. Phim tư nhân chỉ chú trọng yếu tố thương mại, còn phát triển văn hóa nghệ thuật vẫn phải là chiến lược dài hạn của Nhà nước”.

Nhìn ở hướng tích cực, với mô hình hoạt động mới, lượng cổ phần ưu thế của Nhà nước sẽ giao cho các hãng nắm quyền quản lý. Nhờ thế, vai trò tuyên truyền của điện ảnh vẫn được bảo đảm và có điều kiện nâng cao hiệu quả hơn nữa. Bởi, ngay cả những bộ phim đặt hàng phục vụ công tác tuyên truyền cũng sẽ phải "đấu thầu", kể cả các thành phần sáng tác. Được "chọn mặt gửi vàng" mà làm phim dở thì sẽ mất cơ hội tham gia đấu thầu ở những phim sau. Con số cổ phần còn lại do các cổ đông góp vốn, nếu dành để thực hiện những phim thị trường, thậm chí có thể liên kết với truyền hình (trở thành những đối tác của họ trong việc sản xuất phim truyền hình) nhằm “lấy ngắn nuôi dài” để bảo tồn nguồn vốn và có lãi là một hướng phát triển rất khả thi.

Đạo diễn, NSND Đào Bá Sơn trăn trở: “Một nền điện ảnh mà mọi tác phẩm đều biến thành hàng hóa thì thật buồn. Ta thường mang yếu tố thị trường ra làm tiêu chuẩn cho nên mọi thứ đều bị đảo lộn. Nếu không có chiến lược phát triển phù hợp hậu CPH, chúng ta sẽ đánh mất một nền điện ảnh huy hoàng trong quá khứ để chạy theo chiều chuộng những giá trị ngắn hạn trước mắt như thị hiếu khán giả, doanh thu phòng vé…”.