Thách thức trong bảo đảm an ninh năng lượng

HỒNG HẠNH
Thứ Ba, 17-05-2022, 11:29
Đến năm 2045, nguồn năng lượng tái tạo và thủy điện chiếm 68,5% công suất của toàn hệ thống điện. Ảnh: NAM ANH

Dự thảo Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến 2045 (Quy hoạch điện VIII) đã được Hội đồng Thẩm định thông qua. Dự thảo lần này đã có nhiều thay đổi so với bản trình lần đầu (tháng 3/2021, trước Hội nghị lần thứ 26 các bên tham gia Công ước khung của LHQ về biến đổi khí hậu - COP26) khi nguồn điện “xanh, sạch” được phát triển mạnh, hướng đến mục tiêu cam kết phát thải ròng bằng “0” - Net Zero vào năm 2050 tại COP26. Việc bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia (ANNLQG) cũng được đặt trong thách thức mới.

Nguồn điện “xanh” hơn

Cả hai bản dự thảo thời điểm trước và sau COP26 đều tính toán nhu cầu toàn quốc Pmax không thay đổi, nhưng các tính toán về nguồn điện đã thay đổi lớn do áp lực của cam kết Net Zero.

Với bản dự thảo mới, đến năm 2030, công suất đặt nhiệt điện than giảm 8% so với dự thảo trước COP26 (còn 37,467 GW), công suất này giữ nguyên đến năm 2045 với ghi chú “điện than sẽ chuyển sang đốt biomass và/hoặc amoniac”, tức là so với bản trước COP26, nhiệt điện than đến năm 2045 giảm khoảng 26% và nếu chuyển sang dùng biomass và/hoặc amoniac thì không còn nhiệt điện than sau thời điểm này.

Điện gió là nguồn điện được bổ sung mạnh mẽ trong dự thảo mới đã thông qua này, so với kịch bản trước COP26. Công suất điện gió trên bờ và gần bờ ở kịch bản mới, cao hơn 29% (16.121 MW) vào năm 2030 và cao hơn 71% (55,950 MW) vào năm 2045; sông suất điện gió ngoài khơi cao hơn 250% (7.000 MW) vào năm 2030 và 85% vào năm 2045 so với kịch bản trước COP26.

Bên cạnh đó còn có điện khí, nguồn điện được nhiều nước quan tâm trong giai đoạn sắp tới. Trong đó, điện khí sử dụng khí trong nước hầu như không đổi so với dự thảo trước COP26 (gần 15.000 MW), nhưng có chú thích là điện khí nội sẽ chuyển sang LNG/hydrogen; còn điện khí sử dụng LNG nhập khẩu tăng mạnh đến năm 2030, ngưỡng 39% (23.900 MW), sau đó giảm 44% đến năm 2045 so với dự thảo trước COP26. Cũng lưu ý các nguồn điện LNG sẽ chuyển dần sang sử dụng hydrogen và chuyển hẳn sang sử dụng hydrogen sau 20 năm vận hành. Sau 10 năm vận hành, các nguồn điện khí LNG sẽ bắt đầu đốt kèm khí hydrogen (từ 20%).

Đến năm 2045, công suất đặt các nguồn năng lượng tái tạo và thủy điện chiếm 68,5% tổng công suất đặt của toàn bộ hệ thống điện. Ngoài ra, các nguồn điện gió ngoài khơi còn có nhiệm vụ sản xuất ra hydrogen hay amoniac xanh để lưu trữ năng lượng làm nhiên liệu cho các nhà máy nhiệt điện chủ động phát điện, không phụ thuộc vào thời tiết…

Thách thức trong bảo đảm an ninh năng lượng -0
Các nhà máy điện mặt trời sẽ không tính vào tỷ lệ dự phòng. Ảnh: BẮC SƠN 

Nhiều thách thức

Dù được thông qua, tuy nhiên, Chính phủ cũng đã đề nghị Bộ Công thương làm rõ tính khả thi, hiệu quả, an ninh năng lượng khi thực hiện phát triển các nguồn điện khí sử dụng LNG nhập khẩu đến năm 2030 theo kịch bản phụ tải cao phục vụ điều hành (dự kiến quy mô công suất là 23.900 MW).

Chuyên gia năng lượng Đào Nhật Đình đánh giá, việc thực hiện Quy hoạch điện VIII sẽ gặp rất nhiều thách thức. Theo vị này, cơ sở cho việc tăng nguồn điện khí đang gặp khó khăn ngay từ hôm nay. Các dự án điện khí được đề xuất nhiều, nhưng không có dự án nào triển khai được. Giá khí LNG nhập khẩu hai năm nay tăng cao khiến cho giá bán điện dự tính từ nhà máy điện dùng LNG tăng cao. Trong khi, các mỏ khí trong nước đang cạn kiệt, các mỏ mới có giá khí cao hơn mỏ cũ. Do đó, giá bán điện dự tính từ các nhà máy dùng khí từ các mỏ mới sẽ cao hơn giá bán lẻ điện hiện tại của EVN.

Mặt khác, nếu các dự án điện khí không triển khai được thì các dự án năng lượng tái tạo cũng bế tắc, bởi dù có giá thấp hơn điện khí nhưng nguồn điện năng lượng tái tạo không ổn định, công suất khả thi phụ thuộc vào công suất nhiệt điện có thể phát dự phòng.

Cũng theo ông Đào Nhật Đình, sau năm 2030, việc ổn định lưới điện phụ thuộc vào hydrogen, amoniac và công nghệ lưu trữ. Các dự án về sản xuất hydrogen, amoniac chỉ có thể phát triển sau năm 2030, khi thế giới đã thương mại hóa công nghệ sản xuất hydrogen, amoniac, hay lưu trữ điện với giá thành chấp nhận được. “Hiện nay chúng ta chưa đủ tính cạnh tranh về thương mại vì quá đắt”, vị này nói và cho rằng: “Chúng ta có một Quy hoạch điện VIII “khá đẹp” và “xanh”, song việc thực hiện có thể sẽ khó khăn hơn cả Quy hoạch điện VII điều chỉnh”.

Phân tích về tỷ lệ dự phòng (một tỷ lệ bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia), chuyên gia Đào Nhật Đình cho biết, sự thay đổi lớn trong nguồn điện khiến tỷ lệ này tăng rõ rệt, ngưỡng 56,3% vào năm 2030 (tăng 4% so với kịch bản trước COP26) và 105,9% vào năm 2045 (tăng 44% so với kịch bản cũ). Nếu trừ điện mặt trời (do phụ thuộc điều kiện thời tiết, điện mặt trời chỉ phát vào ban ngày và đạt đỉnh vào giữa trưa, sau đó xuống nhanh đến gần bằng không, trừ một vài nguồn có ắc-quy dự trữ), tỷ lệ dự phòng tăng vào các năm 2030 và 2045 lần lượt là 51% và 65% so với kịch bản trước COP26.

“Việc bỏ điện mặt trời ra khỏi dự phòng là hợp lý, nhưng việc xếp toàn bộ công suất đặt điện gió vào dự phòng là không đúng, bởi thực tế trong tháng 3/2022 có thời điểm, điện gió chỉ phát dưới 1% công suất đặt. Ngoài ra, công suất đặt thủy điện, tuy là nguồn có thể chủ động điều chỉnh phát, cũng không thể coi tất cả là nguồn dự trữ. Tất cả điều này sẽ ảnh hưởng đến an ninh năng lượng quốc gia”, vị chuyên gia nhấn mạnh.

Chuyên gia Đào Nhật Đình tính toán, nếu loại bỏ nguồn điện mặt trời, chỉ lấy 50% công suất đặt của thủy điện và 10% công suất điện gió tính vào nguồn dự trữ, tỷ lệ dự phòng của hệ thống điện Việt Nam vào năm 2030 và 2045 lần lượt là 20% và 12%. Nhưng thông thường, hệ thống điện phải có dự phòng nguồn điện chủ động khoảng 30%, vì một số nhà máy đến kỳ sửa chữa, hư hỏng đột xuất, giảm công suất phát do thời tiết nóng... “Như vậy, tỷ lệ dự phòng vào năm 2030 đã bắt đầu thiếu và 2045 sẽ rất thiếu, nếu đất nước vẫn phát triển nhanh như trong phương án điều hành, hoặc việc xây dựng nguồn điện bị chậm tiến độ như đã xảy ra với Quy hoạch điện VII điều chỉnh”, chuyên gia Đào Nhật Đình nhận định.

.