Phát triển bền vững vùng đồng bằng sông Cửu Long

Bài 2: Chiến lược, mục tiêu trong bối cảnh, tình hình mới

Cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, qua tổng kết đánh giá 18 năm thực hiện Nghị quyết số 21-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa IX và 9 năm thực hiện Kết luận số 28-KL/TW của Bộ Chính trị khóa XI cho thấy vùng đồng bằng sông Cửu Long đã có bước phát triển khá toàn diện nhưng cũng bộc lộ những khó khăn, hạn chế và thách thức mới.

Thu hoạch cá lồng bè ở huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau. (Ảnh HỮU TÙNG)
Thu hoạch cá lồng bè ở huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau. (Ảnh HỮU TÙNG)

Trước yêu cầu và đòi hỏi đối với sự phát triển chung của cả nước và của vùng đồng bằng sông Cửu Long trong những giai đoạn phát triển tới, Bộ Chính trị đã xem xét, ban hành Nghị quyết số 13-NQ/TW về “Phương hướng phát triển kinh tế-xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”. Nghị quyết nêu rõ quan điểm, mục tiêu và các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu để tạo bước phát triển nhanh và bền vững cho đồng bằng sông Cửu Long trong thời gian tới.

Vùng đồng bằng sông Cửu Long có vai trò, vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng về kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường, quốc phòng, an ninh và đối ngoại của cả nước. Nghị quyết số 13-NQ/TW của Bộ Chính trị xác định phát triển vùng đồng bằng sông Cửu Long nhanh và bền vững, phù hợp với vai trò, vị trí chiến lược của vùng, trở thành vùng phát triển hiện đại, sinh thái, văn minh và bền vững có ý nghĩa quan trọng đối với phát triển của các địa phương trong vùng và cả nước.

Từ thực tiễn và yêu cầu phát triển

Theo số liệu điều tra mới đây, đồng bằng sông Cửu Long chiếm khoảng 55% tổng diện tích đất trồng trọt và khoảng 71% tổng diện tích đất nuôi trồng thủy sản của cả nước. Đây là một trong những đồng bằng lớn của thế giới và có lợi thế phát triển đa dạng các mặt hàng nông sản, đặc biệt là lúa gạo để xuất khẩu, chăn nuôi gia súc, gia cầm và thủy hải sản. Tiềm năng, dư địa phát triển của vùng lớn, tuy nhiên còn những “điểm nghẽn”, nhiều khó khăn liên quan đến cơ chế, chính sách phát triển đối với từng địa phương và toàn vùng.

Tỉnh Cà Mau có thế mạnh về tự nhiên, địa lý, thế mạnh về phát triển kinh tế biển và năng lượng tái tạo (điện gió, điện mặt trời). Tuy nhiên, lãnh đạo tỉnh Cà Mau mới đây thẳng thắn đánh giá, tăng trưởng kinh tế của tỉnh còn khá thấp, chưa mang tính bền vững. Cà Mau cần được tập trung hơn nữa nguồn lực xây dựng hoàn thiện hạ tầng giao thông để tận dụng và khai thác hiệu quả tiềm năng và thế mạnh của địa phương, nhất là kinh tế biển.

Qua các hội thảo, diễn đàn từ Trung ương, của vùng và địa phương có chung nhìn nhận vùng đất này vẫn chưa phát triển xứng tầm. Thống nhất ý kiến với nhiều nhà lãnh đạo, quản lý, Giáo sư Hà Thanh Toàn, Hiệu trưởng Trường đại học Cần Thơ nhìn nhận, vùng đồng bằng sông Cửu Long cần đổi mới mô hình tăng trưởng, hướng đến mục tiêu trở thành trung tâm kinh tế nông nghiệp hiện đại, sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên. Các tỉnh, thành phố cần tập trung phát triển chuỗi cung ứng, công nghiệp chế biến, công nghiệp hỗ trợ, logistics phục vụ nông nghiệp, nông thôn… Tiêu biểu như Đề án xây dựng Trung tâm liên kết, sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp vùng đồng bằng sông Cửu Long tại Cần Thơ vừa được triển khai.

Nhiều năm gần đây, gắn với quá trình nghiên cứu, triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, nghị quyết đại hội đảng bộ các cấp, Trung ương cùng lãnh đạo các địa phương vùng đồng bằng sông Cửu Long đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo kiểm soát thật tốt dịch bệnh; thực hiện hiệu quả phương châm “Thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch Covid-19”; tạo nền tảng phục hồi nhanh, phát triển bền vững kinh tế-xã hội trong điều kiện “bình thường mới”.

Các tỉnh, thành phố hướng mạnh vào huy động mọi nguồn lực cho phát triển hạ tầng giao thông; khẩn trương triển khai công tác quy hoạch trong năm 2022 để tìm ra tiềm năng khác biệt, cơ hội nổi trội, lợi thế cạnh tranh và nhìn rõ khó khăn, hạn chế, yếu kém để có giải pháp hóa giải và thúc đẩy phát triển. Cùng với đó, các địa phương rà soát lại các dự án đầu tư công, cắt giảm những dự án kém hiệu quả, tập trung cho những dự án có hiệu quả cao; tập trung cho chuyển đổi số, xây dựng thương hiệu cho các sản phẩm của tỉnh, thành phố... quy hoạch vùng đồng bằng sông Cửu Long với các vấn đề thiết yếu, cấp bách.

Các chuyến công tác, khảo sát, làm việc của lãnh đạo Đảng, Nhà nước cùng nhiều diễn đàn, hội thảo từ Trung ương và địa phương đã góp phần tháo gỡ về cơ chế, khai thác tốt hơn tiềm năng, thế mạnh thúc đẩy các tỉnh, thành phố trong khu vực phát triển nhanh, bền vững. Từ những kết quả tổng kết, đánh giá khoa học chuyên sâu của Trung ương, các bộ, ngành và địa phương cho thấy, cùng với những thành tựu đáng ghi nhận, việc phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bằng sông Cửu Long còn những hạn chế, bất cập và chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế.

Tình hình trên có nguyên nhân do thiên tai, biến đổi khí hậu, xâm nhập mặn, thay đổi dòng sông Mê Công, tình trạng chặt phá rừng gây tác hại ngày càng nặng nề và còn do chất lượng quy hoạch vùng và quy hoạch các địa phương trong vùng còn thấp; đầu tư cho vùng chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển; cơ cấu đầu tư chưa hợp lý, dàn trải, hiệu quả sử dụng chưa cao; nhận thức về vai trò, vị trí và tầm quan trọng của vùng chưa cao; tư duy về liên kết vùng chậm được đổi mới; cơ chế điều phối kết nối vùng chưa hiệu quả, nhiều bất cập; thiếu hệ thống các chỉ tiêu kinh tế-xã hội để quản lý, điều tiết vùng. Bên cạnh đó, chúng ta chưa có chính sách đủ mạnh để tạo được bước đột phá cho khu vực và địa phương trọng điểm; chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu phát triển…

Thực tế đòi hỏi các địa phương khu vực đồng bằng sông Cửu Long xác định rõ vị thế và những thách thức đặt ra cho vùng thời gian tới; dự báo về bối cảnh mới trong nước, quốc tế tác động tích cực, tiêu cực đến sự phát triển kinh tế-xã hội địa phương và vùng; xác định tầm nhìn chiến lược và quan điểm phát triển của đồng bằng sông Cửu Long gắn với những yếu tố mới về công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa; liên kết vùng phải được đặt trong bối cảnh của cách mạng công nghiệp 4.0, kinh tế số và biến đổi khí hậu…; đề xuất các quan điểm; mục tiêu cần điều chỉnh; các trục phát triển cơ bản; các ngành, lĩnh vực cần được ưu tiên đầu tư; việc sửa đổi, bổ sung chính sách, pháp luật phù hợp hơn cho sự phát triển của vùng.

Những định hướng, điểm mới quan trọng và điểm trọng tâm đột phá

Kế thừa thành tựu và kinh nghiệm của gần 20 năm phát triển gần đây, từ thực tiễn cùng yêu cầu định hướng chiến lược, những giải pháp nhằm tạo bước đột phá thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội của toàn vùng, mới đây Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 13-NQ/TW, khóa XIII, về “Phương hướng phát triển kinh tế-xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”. Đồng chí Trần Tuấn Anh, Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng Ban Kinh tế Trung ương cho biết: Tại Nghị quyết số 13-NQ/TW, Bộ Chính trị đã chỉ ra những nguyên nhân khách quan và chủ quan của những hạn chế, yếu kém trong phát triển của vùng thời gian qua, trong đó có nguyên nhân bởi tác động, ảnh hưởng ngày càng nặng nề của thiên tai, biến đổi khí hậu, xâm nhập mặn, thay đổi dòng chảy sông Mê Công, chặt phá rừng... Nhưng đồng thời, cũng nhấn mạnh các nguyên nhân chủ quan bởi tư duy về liên kết vùng chậm được đổi mới; cơ chế điều phối, kết nối vùng còn nhiều bất cập; thiếu hệ thống các chỉ tiêu kinh tế-xã hội để quản lý, điều tiết vùng; chưa có chính sách đủ mạnh để tạo được bước đột phá cần thiết cho khu vực và một số địa phương trọng điểm...

Trên cơ sở đánh giá tiềm năng, lợi thế của vùng và những vấn đề đặt ra cho phát triển vùng trong thời gian tới, Nghị quyết số 13-NQ/TW của Bộ Chính trị đã cập nhật, bổ sung các quan điểm, chủ trương mới của Đảng thời gian gần đây, đặc biệt là Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng; đồng thời cập nhật, đánh giá bối cảnh mới, tình hình mới tác động đến vùng để xác định các quan điểm, định hướng, mục tiêu và nhiệm vụ, giải pháp toàn diện cho phát triển kinh tế-xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh của vùng đồng bằng sông Cửu Long trong những giai đoạn phát triển tới với 5 nhóm quan điểm và 5 nhóm nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu, bao gồm: (1) Tập trung hoàn thiện thể chế, chính sách phát triển và đẩy mạnh liên kết vùng; (2) Phát triển nhanh và bền vững kinh tế vùng; (3) Phát triển văn hóa-xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; (4) Bảo đảm vững chắc quốc phòng, an ninh; (5) Tập trung xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị.

Trong Nghị quyết, Bộ Chính trị đã đề ra những quan điểm, định hướng và nhiệm vụ, giải pháp mới có tính đột phá cho phát triển của vùng thời gian tới, thể hiện ở những điểm căn bản là: Phát triển vùng đồng bằng sông Cửu Long trở thành vùng phát triển hiện đại, sinh thái, văn minh và bền vững; Lấy con người làm trung tâm, tài nguyên nước là yếu tố cốt lõi; tôn trọng quy luật tự nhiên; phù hợp với điều kiện thực tế của vùng; Đổi mới mô hình tăng trưởng theo hướng chủ yếu dựa vào sử dụng hiệu quả các nguồn lực, thúc đẩy phát triển và ứng dụng khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; Cơ cấu lại kinh tế vùng theo hướng kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, nông nghiệp sinh thái là trọng tâm, công nghiệp năng lượng là đột phá, dịch vụ là bệ đỡ.

Đồng thời, cần bảo tồn và phát huy giá trị các di sản thiên nhiên và văn hóa-lịch sử, văn hóa sông nước, miệt vườn; Văn hóa các dân tộc của vùng đồng bằng sông Cửu Long; Kết hợp phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, xã hội, giảm nghèo bền vững; Tăng cường quốc phòng, an ninh kết hợp với phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội; Tập trung xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.

Những quan điểm, định hướng và nhiệm vụ, giải pháp được nêu tại Nghị quyết 13-NQ/TW là cơ sở quan trọng để tiếp tục hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách, đặc biệt là các cơ chế chính sách đặc thù nhằm phát triển vùng đồng bằng sông Cửu Long trong thời gian tới. Nghị quyết cũng nhấn mạnh yêu cầu đối với các cấp ủy, tổ chức đảng, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị-xã hội và nhân dân, nhất là các địa phương vùng đồng bằng sông Cửu Long cần tập trung nghiên cứu, tuyên truyền, phổ biến, quán triệt để tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả Nghị quyết.

Với thành tựu và bài học của sự nghiệp đổi mới đất nước hơn 35 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, có thể khẳng định việc quán triệt, triển khai thực hiện có hiệu quả Nghị quyết, cụ thể là: Phát huy cao độ vai trò lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức đảng, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, sự đồng thuận của xã hội, sự tham gia tích cực của toàn dân và cộng đồng doanh nghiệp trong quá trình thực hiện Nghị quyết, sẽ ghi dấu mốc mới, vận hội và thành tựu mới trong phát triển vùng đồng bằng sông Cửu Long cùng sự phát triển của đất nước trong bối cảnh và tình hình mới.

(★) Xem Báo Nhân Dân từ số ra ngày 21/4/2022.