Áp lực và động lực mới với nợ công

Theo Bộ Tài chính, quy mô nợ công và dịch vụ nợ công của Việt Nam đang tăng nhanh, sát trần nợ Quốc hội cho phép và ngưỡng an toàn theo thông lệ quốc tế; điều kiện vay và trả nợ ngày càng ngặt nghèo hơn và sẽ mang tính thị trường đậm hơn.

Tính đến cuối năm 2015, tỷ lệ dư nợ công là 62,2% GDP (giới hạn cho phép là dưới 65% GDP); nợ nước ngoài của quốc gia là 43,1% GDP; dư nợ Chính phủ là 50,3% GDP. Hiện khoản vay dài nhất của Việt Nam là tới năm 2055. Bình quân các khoản nợ phải trả khoảng 12 năm. Dịch vụ nợ (trả cả gốc và lãi) đang chiếm gần 30% chi thường xuyên ngân sách nhà nước (NSNN). Thời điểm Việt Nam phải trả nợ nhiều là từ năm 2022 đến 2025.

Từ khi Việt Nam trở thành nước thu nhập trung bình (năm 2010), nguồn vốn vay theo điều kiện ưu đãi cũng giảm dần (không còn cam kết “cứng” về quy mô cho vay; thời gian vay bình quân từ 30 đến 40 năm rút ngắn còn từ 20 đến 25 năm, thậm chí chỉ 15 năm; mức lãi vay từ khoảng 0,7 đến 0,8%/năm tăng lên 2 đến 3,5%/năm và giảm viện trợ không hoàn lại đến mức thấp nhất). Nhiều nhà tài trợ đã chuyển từ nguồn vốn ODA sang nguồn vốn vay hỗn hợp. Dự kiến đến tháng 7-2017, Việt Nam có thể không còn được vay theo điều kiện ODA, phải chuyển chủ yếu sang sử dụng nguồn vay ưu đãi và tiến tới vay theo điều kiện thị trường.

Trong 10 năm qua (2005 – 2015), Việt Nam đã ký được khoảng 45 tỷ USD tổng số vốn ODA và vay ưu đãi; trong số vốn đã giải ngân, khoảng một phần ba được chuyển vào ngân sách trung ương để cấp phát cho các chương trình, dự án thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách trung ương; một phần ba được dành cho các chương trình, dự án của địa phương; một phần ba để cho vay lại các dự án trọng điểm của Nhà nước. Trong tổng số vốn dành cho chương trình, dự án của địa phương, tỷ trọng vốn cấp phát chiếm 92,2%, cho vay lại chỉ chiếm 7,8%. Chính phủ vẫn chịu toàn bộ các rủi ro tín dụng phần vốn để cho vay lại các dự án đầu tư trọng điểm của Nhà nước. Cơ quan cho vay lại chỉ có vai trò là ngân hàng phục vụ và hưởng phí dịch vụ. Cơ chế quản lý và sử dụng vốn vay này chỉ phù hợp thời kỳ đầu chuyển đổi nền kinh tế, khi vốn vay được ưu đãi; còn hiện nay đã và đang kéo theo tình trạng đầu tư dàn trải, lãng phí, chậm tiến độ, đội vốn tổng mức đầu tư và kéo dài tâm lý thụ động trông chờ vào bao cấp vốn của Nhà nước.

Điều kiện vay kém ưu đãi đồng nghĩa với gia tăng chi phí vay vốn và dịch vụ nợ, cũng như áp lực thâm hụt NSNN và bất ổn cân đối tài chính vĩ mô; đẩy mạnh xã hội hóa và thị trường hóa giá dịch vụ công ích, ở các lĩnh vực như: Điện, nước, một số dự án hạ tầng giao thông... Thậm chí, có thể tạo nguy cơ thiếu hụt nguồn vốn cần thiết cho một số dự án và đối tượng chính sách thuộc diện bảo đảm an sinh xã hội.

Tuy nhiên, khi nợ công chịu áp lực “chạm trần” và việc buộc phải vay trong điều kiện thị trường ngày càng ngặt nghèo hơn cũng tạo động lực đổi mới cơ chế quản lý nợ công theo hướng chặt chẽ và thị trường hơn.

Đối với cho vay lại chính quyền địa phương, tỷ lệ cho vay lại sẽ được xác định theo điều kiện của nguồn vốn vay, tính chất dự án vay và mức tự cân đối NSNN của địa phương. Điều này sẽ thúc đẩy sự điều chỉnh, tách bạch quyền, nghĩa vụ trong việc vay, trả nợ giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương; gia tăng quyền vay nợ và nghĩa vụ trả nợ của chính quyền địa phương, tăng tính trách nhiệm và năng lực quản lý, sử dụng vốn vay của chính quyền địa phương theo Luật NSNN mới thông qua năm 2015, sẽ có hiệu lực từ năm 2017.

Cơ quan cho vay lại sẽ chịu áp lực chia sẻ rủi ro với Chính phủ khi nhận vốn cho vay lại, với tỷ lệ chia sẻ rủi ro tùy thuộc vào tính chất nguồn vốn và mức độ ưu đãi của dự án được vay vốn. Bù lại, các cơ quan này cũng được hưởng mức chênh lệch lãi suất cao hơn tương ứng các tỷ lệ chịu rủi ro khi cho vay lại tín dụng nêu trên. Nhờ đó, việc quản lý, sử dụng nguồn vốn sẽ hiệu quả hơn…

Thực tiễn cho thấy, áp lực vay nợ công trong điều kiện thương mại cao tạo nhiều áp lực về trách nhiệm, nghĩa vụ trả nợ, song cũng sẽ chuyển hóa thành động lực phải đẩy nhanh và thực chất hơn quá trình cải thiện cơ chế quản lý nợ công, nhất là sử dụng vốn vay nước ngoài, theo hướng vay thận trọng, sử dụng tiết kiệm, nâng cao trách nhiệm vay - trả của người sử dụng và nâng cao chất lượng thẩm định, bảo đảm nguyên tắc chia sẻ rủi ro với Chính phủ của chủ đầu tư và cơ quan cho vay lại; tức tạo động lực đậm hơn về sử dụng nợ công tiết kiệm và hiệu quả hơn!